Tìm hiểu về máy lọc nước Nanohome

2 năm trước


Tìm hiểu về máy lọc nước Nanohome

1. Máy lọc nước NanoHome sử dụng công nghệ nào?

 

1.1 Công nghệ hấp phụ chọn lọc:(Hemulfil – Reasma– S-HAC);

 

Đây là phương pháp phủ các nam châm kim loại có kích thước nano lên bề mặt vật liệu siêu rỗng, tạo ra diện tích tiếp xúc cực lớn giữa các loại nam châm nano và các phân tử nước. Mỗi loại nam châm nano có áp lực đặc biệt với một nhóm các kim loại được chỉ định và hút giữ lại những kim loại đó. Các chất độc hại này được giữ chặt bằng lực liên kết của các phân tử, việc xử lý hoàn toàn không sử dụng các phản ứng hóa học, hóa chất nên tuyệt đối an toàn. Các vật liệu hấp phụ sau thời gian sử dụng được thu hồi, xử lý để tránh gây tác động với môi trường.

 

Công nghệ lọc hấp phụ chọn lọc dựa vào nguyên lý hấp phụ đối với từng chất khác nhau của các vật liệu hấp phụ khác nhau để và loại bỏ những chất độc hại tới mức an toàn cho phép; và như thế sẽ giữ lại được những nguyên tố vi lượng, các khoáng chất cần thiết cho sức khỏe luôn ở mức độ cần thiếtvà an toàn.

 

1.2  Công nghệ xử lý Amoni và các chất hữu cơ

 

Tính năng vượt trội trong xử lý Amoni và các chất hữu cơ là sử dụng than hoạt tính để lọc nước.

Than hoạt tính là loại vật liệu gồm chủ yếu là nguyên tố carbon ở dạng vô định hình, có tính năng, tác dụng rất đa dạng và đặc biệt, có kết cấu nhiều lỗ xốp, diện tích bề mặt cực kỳ lớn được tạo ra trong giai đoạn hoạt tính hóa các cấu trúc rỗng ở bên trong. Dưới kính hiển vi điện tử, một hạt than hoạt tính trông giống như tổ kiến; tổng diện tích bề mặt của 0,5 kg than hoạt tính (đơn vị khối lượng từ 1.000 – 2.500 m2/g) còn rộng hơn cả một sân bóng đá. Vì thế, khả năng hấp phụ của than hoạt tính rất mạnh và lưu giữ tốt đối với các chất khí, chất lỏng và các phân tử hữu cơ khác.

 

Than hoạt tính có khả năng hấp phụ rất tốt với các chất hữu cơ. Tuy nhiên, đối với amoni, một độc tố rất phổ biến trong nước ngầm ở Việt nam thì năng lực hấp phụ rất yếu. Bằng công nghệ biến tính đặc biêt, than hoạt tính sử dụng cho máy lọc nước Nanohome có năng lực hấp phụ gấp từ 20 – 50 lần trong lần ban đầu, đặc biệt lên tới 70 lần đối với Amoni. Đây là công nghệ sử lý anomi hiệu quả nhất mà các công nghệ xử lý nước khác không thực hiện được.

 

1.3 Công nghệ diệt khuẩn Công nghệ diệt khuẩn thông minh Nanospec và Chống tái nhiễm khuẩn Nanosliver.

 

Với kích cỡ phân tử ở mức vi mô, chỉ từ 3 đến 5 nano mét, Nano bạc có khả năng tiêu diệt những vi khuẩn gây hại theo nguyên tắc bao bọc trực tiếp tế bào của vi khuẩn và phá vỡ cấu trúc tế bào, từ đó, vô hiệu hóa sự phát triển của chúng. Thí nghiệm cho thấy khi cho tiếp xúc với Nano bạc trong khoảng thời gian ngắn chưa đầy 5 phút thì hầu hết các loại vi khuẩn sống (tồn tại trong môi trường sống bình thường) cũng không còn.

 

Công nghệ diệt khuẩn bằng nano bạc là công nghệ diệt khuẩn tiên tiến nhất hiện nay, được ứng dụng ở hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới. Bộ quả lọc Nanohome sử dụng cột lọc PE đươc phủ lên các hạt nano bạc có kích thước từ 10 tới 30nm. Khi dòng nước len lõi qua lớp vật liệu này thì 99,99% vi khuẩn, vi rút, trong nước sẽ bị tiêu diệt và nước sau khi xử lý trở nên vô khuẩn hoàn toàn. Ưu điểm lớn nhất của công nghệ này chính là việc xử lý vi khuẩn bằng các hoạt động cơ học, sự hoạt động tích cực của electron trong phân tử bạc sẽ phá hủy Protein của vi khuẩn, vi rút, hoàn toàn không có các phản ứng hóa học hoặc thay đổi môi trường sống của vi khuẩn như trong các phương pháp khác, việc này tạo ra 1 sự an toàn và hiệu suất tuyệt đối của công nghệ.

 

Hơn nữa, sản phẩm được ứng dụng công nghệ Nanosliver không gây kích ứng cho người dùng và an toàn cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ – những đối tượng có sức đề kháng còn yếu…

 

Do được ứng dụng đồng thời các công nghệ kể trên nên Máy lọc nước Nanohome có thể:

 

- Lọc sạch các chất bẩn, vi khuẩn, vi rút, clo, các loại bào tử nấm có hại trong nước.

- Loại bỏ tối ưu các kim loại nặng có trong nước như Chì, Mangan, Sắt, Asen(đây là một loại chất độc vô cùng gây nên bện ung thư), Amoni, Nitrit, thuốc trừ sâu, Dioxin….

- Nguồn nước lọc ra phải có chứa các khoáng chất có lợi cho cơ thể: Canxi, Ma-gie, kẽm, Sắt, các nguyên tố vi lượng….

 

2. Cách thức nhận biết nguồn nước nhiễm Asen.

 

Với nguồn nước bị nhiễm Asen nhiều thì có thể sử dụng biện pháp đơn giản là sử dụng nước chè đặc đổ vào mẫu nước kiểm tra nếu nước chuyển sang màu tím là nước bị nhiễm Asen nặng hoặc sử dụng nhựa của cây chuối cho vào trong mẫu nước nếu mẫu nước có kết tủa chứng tỏ có Asen.

 

     3. Tại sao nước qua xử lý bằng máy Nanohome vẫn còn hiện tượng bị lắng cặn? 

 

Nếu nước qua máy lọc nước Nanohome sau khi đun vẫn bị đóng cặn thì bạn hoàn toàn yên tâm, vì theo nguyên tắc lọc hấp phụ, sẽ không thay đổi độ cứng đáng kể do canxi và magie nên các hợp chất bi cacbonat như CA( HCO3)¬2 (canxi bi cacbonat) Mg (HCO3)2 (magie bi cacbonat) sau khi đi qua bộ quả lọc vẫn được giữ lại.

 

Khi đun sôi các hợp chất này tạo thành CACO3 và MgCO2 nên tạo ra cặn từ đó. Nếu để uống, các bạn hoàn toàn không cần thiết đun nước vì canxi và magie đều luôn cần thiết cho cơ thể. Độ cứng (Hardness) của nước ở Việt Nam không ở mức độ cao, hơn nữa theo TCVN và tiêu chuẩn của WHO cho phép độ cứng do canxi và magie lên đến 300mg/l. điều này có nghĩa nếu bạn có uống nước có hàm lượng canxi và magie cao lên tới 300mg/l suốt cả đời cũng không gây bất cứ ảnh hưởng nào đến sức khỏe.

 

     4. Asen là gì? 

 

Asen là nguyên tố tự nhiên có trong lớp vỏ trái đất và  mặt ở khắp mọi nơi trên trải đất, chiếm khoảng 10-4% khối lượng các nguyên tố có trong vỏ trái đất. Về tính chất hóa học, asen là á kim, không màu, không mùi vị thuộc nhóm 5 trong bảng tuần hoàn Mendeleev, có các hóa trị: -3, 0, +3, +5, các trạng thái hóa trị này có thể chuyển đổi với nhau tùy thuộc vào sự có mặt của các ion cũng như pH của môi trường. Asen dạng nguyên tố (hóa trị 0) không tan trong nước và rất hiếm gặp ở trạng thái tồn tại tự do trong tự nhiên. Trong phần lớn các hợp chất, asen mang hóa trị +3 (ký hiệu là As(III)), hoặc oxy hóa thành asen hóa trị + 5 (As(V)), ở trạng thái hóa trị này, các hợp chất asen tương đối bền vững. Muối của asen có độ tan khác nhau, phụ thuộc vào pH, lực ion và thế oxy hóa – khử của môi trường. Ví dụ trong môi trường mang tính khử và pH thấp thì As(III) sẽ chiếm ưu thế, ngược lại trong môi trường oxy hóa và pH cao thì As(V) sẽ là dạng bền hơn.

 

Asen có mặt trong nước tự nhiên với nồng độ thấp, chỉ khoảng vài 1µg/L hoặc nhỏ hơn.Nồng độ asen trong nước biển ở khoảng 1 - 8µg/L, trong nước ngọt không ô nhiễm là 1 - 10µg/L và tăng cao đến 100 – 5.000µg/L tại những vùng có khoáng hóa sulfur và vùng mỏ. Trong nước, asen thường tồn tại ở dạng asenat (As(V)) hoặc asenit (As(III)). Các hợp chất asen hữu cơ dạng metyl hóa như MMA – axit monometyl asonic, DMA – axit dimethyl asonic, TMA – axit trimetyl asonic có mặt một cách tự nhiên trong nước là kết quả của hoạt động sinh học.

 

Hàm lượng asen trung bình trong nước ngầm thường là 1 - 2µg/L. Ở những vùng có đá núi lửa và các cặn khoáng sulfur, hàm lượng asen đo được có khi cao hơn 3.000µg/L.

 

     5. Asen ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?

 

Asen vô cơ (hay còn gọi là thạch tín) được coi là chất độc đối với con người.Ăn hoặc uống phải thực phẩm và nước có chứa asen vô cơ có thể gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe như sau:

 

- Chết nếu ăn phải thực phẩm hoặc nước có hàm lượng asen trên 60.000µg/L.

 

- Ảnh hưởng đến dạ dày và ruột nếu ăn phải thực phẩm và nước có hàm lượng asen vô cơ từ 300 – 30.000µg/L với với các triệu chứng như đau dạ dày, buồn nôn và nôn, tiêu chảy.

 

- Giảm khả năng tạo hồng cầu và bạch cầu, dẫn đến mệt mỏi, rối loạn nhịp tim, vỡ mạch máu gây bầm tím và suy giảm hệ than kinh gây tê bàn chân, bàn tay.

 

- Nếu tiếp xúc, ăn uống thực phẩm, nước nhiễm asen trong thời gian dài có thể gây ra những biến đổi về sắc tố da như sạm da, dày sừng hoặc mụn cóc ở lòng bàn tay, lòng bàn chân và trên người và có thể dẫn đến ung thư da. Ngoài ra, ăn uống nguồn thực phẩm, nước nhiễm asen làm tăng nguy cơ ung thư gan, thận, bàng quang, tuyến tiền liệt và phổi.

 

- Hầu như không có số liệu về những ảnh hưởng có hại của asen hữu cơ lên sức khỏe của con người. Tuy nhiên, ở hàm lượng cao, asen hữu cơ vẫn có thể gây ra những tác động tương tự như asen vô cơ.

 

Theo nhiều nhà khoa học asen có thể gây ra tới 19 loại bệnh khác nhau. Nếu bị nhiễm độc asen với liều lượng dù nhỏ nhưng tích tụ trong thời gian dài, sau 5 – 10 năm, sẽ gây: mệt mỏi, buồn nôn, hồng cầu và bạch cầu giảm. Hai loại bệnh phổ biến nhất do asen gây ra là ung thư da và phổi. Nhiều nơi có hội chứng xạm da, sừng hóa bẩm sinh gan bàn chân. Thay đổi sắc tố da, phát sinh các điểm tối điểm sáng trong lòng bàn tay, chân, gây sừng cứng và hoại tử.

 

Tích tụ asen lâu ngày gây nên da mặt xám, rụng tóc, giảm trí nhớ, mạch máu bị tổn thương, bệnh rối loạn nhịp tim, đau mắt, đau tai, bệnh viêm dạ dày và ruột làm kiệt sức, gây mụn lóet, bệnh ung thư, bệnh gây cảm giác về sự di động bị rối loạn, bệnh tiểu đường. Người uống nước ô nhiễm arsen lâu ngày sẽ có triệu chứng các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi, niêm mạc lưỡi hoặc sừng hóa da, gây sạm và mất sắc tố.

 

     6.  Mangan là gì? Tác hại của Mangan có trong nước 

 

Mangan là một kim loại màu trắng bạc, có kí hiệu Mn và có số hiệu nguyên tử 25. Nó được tìm thấy ở dạng tự do trong tự nhiên (đôi khi kết hợp với sắt), và trong một số loại khoáng vật. Các trạng thái oxi hóa phổ biến nhất của Mangan là +2, +3, +4, +6 và +7. Trong đó, trạng thái ổn định nhất là Mn+2. Mangan là kim loại tương đối hoạt động. Nó dễ bị oxi hóa trong không khí bởi các chất oxi hóa mạnh như O2, F2, Cl2. Trong nước, mangan tồn tại dưới dạng Mn4+ và Mn2+ trong các muối tan của clorua, sulfat, nitrat.

 

Mangan là một nguyên tố cần thiết cho tất cả các loài.Mn có nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể như tác động đến hô hấp tế bào, phát triển xương, chuyển hóa gluxit, hoạt động của não, cảm giác cân bằng. Mn có hàm lượng cao trong ty lạp thể làm chất đồng xúc tác cùng các enzym, tham gia vào một số quá trình như: tổng hợp axít béo và chlesterol, sản xuất hooc môn giới tính. Hormon tuyến giáp kiểm tra sự di chuyển của Mn. Ngược lại, Mn tác động đến sự chuyển hóa tuyến giáp nhờ được hình thành từ một enzym cơ bản.Mn liên kết với vitamin K tham gia tổng hợp prothrombin ảnh hưởng đến quá trình đông máu.Mn tham gia tổng hợp protein và tương tác với acid nucleic, tham gia tổng hợp cholesterol.Mn làm giảm glucose huyết nhưng lại tham gia phản ứng tạo ra glucose từ các phân tử khác.Cơ thể rất ít khi bị thiếu Mn. Trái lại nguy cơ ngộ độc lại dễ xảy ra trong công nghiệp Mn. 

 

Sự nhiễm độc mangan cũng xuất hiện khi con người sử dụng nguồn nước ăn uống có nồng độ mangan cao trong một thời gian dài. Một cậu bé 10 tuổi dùng nước sinh hoạt có nồng độ mangan cao gấp 3 lần so với tiêu chuẩn cho phép của WHO (0,4 mg/L) trong thời gian 5 năm có biểu hiện khả năng ghi nhớ dưới mức trung bình. Nhiễm độc mangan từ nước uống làm giảm khả năng ngôn ngữ, giảm trí nhớ, giảm khả năng vận dụng sự khéo léo của đôi tay và tốc độ chuyển động của mắt. Phơi nhiễm mangan lâu dài (hơn 10 năm) đã dẫn đến những triệu chứng thần kinh không bình thường ở người cao tuổi như dáng đi và ngôn ngữ bất thường.

 

     7. Tác hại của chì tới sức khỏe con người?

 

Chì là kim loại nặng nằm trong danh sách các chất độc cực mạnh và rất nguy hiểm đối với môi trường và sức khỏe con người. Chì được dùng trong sản xuất sơn, pin, đạn, vỏ dây cáp… Tình trạng nước bị nhiễm các kim loại nặng ngày càng tăng, đặc biệt là chì (Pb). Đối với con người và động vật, chì có độc tính rất cao.Trẻ em từ 6 tuổi trở xuống và phụ nữ có thai là những đối tượng mẫn cảm với những ảnh hưởng nguy hại nhất của chì.

 

Nguồn nước bị ô nhiễm các kim loại nặng, đặc biệt là Chì (Pb) có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), việc sử dụng nguồn nước nhiễm một lượng chì lớn và trong thời gian dài có thể khiến một người bị nhiễm độc và thậm chí tử vong nếu không được cứu chữa kịp thời. Chúng ta cùng phân tích một số tác hại không thể không kể đến củachì đối với sức khỏe:

 

Đối với trẻ em có mức hấp thụ chì cao gấp 3-4 lần người lớn. Chì tích tụ ở xương, cản trở chuyển hóa Canxi bằng cách kìm hãm sự chuyển hóa vitamin D, gây độc cả cơ quan thần kinh trung ương lẫn thần kinh ngoại biên. Đặc biệt, c gây tác động mãn tính tới phát triển trí tuệ. Ngộ độc Chì còn gây ra biến chứng viêm não ở trẻ em.

 

Chì  tác động lên hệ thống enzyme vận chuyển hiđro gây nên một số rối loạn cơ thể, trong đó chủ yếu là rối loạn bộ phận tạo huyết (tủy xương). Tùy theo mức độ nhiễm độc có thể gây ra những tai biến, nếu nặng có thể gây tử vong.

 

Với những phụ nữ có thai thường xuyên tiếp xúc với chì khả năng sẩy thai hoặc thai nhi chết sau khi sinh là rất lớn.

 

Chì có tác dụng rất độc hại cho cơ thể con người và có thể gây ra một số bệnh kinh niên, mãn tính, ví dụ như bệnh thận hay bệnh thần kinh.

 

8. Nước nhiễm phèn là gì? 

 

8.1 Phèn là gì?

 

Là những muối kép có cấu tạo tinh thể đồng hình (đa phần có 8 mặt) tạo nên bởi các anion sunfat SO4-2 (cũng có thể là anion selenat SeO4-2; anion phức SeF4-2 hoặc ZnCl4-2) và cation của hai kim loại có hoá trị khác nhau.

 

Công thức chung của phèn là MIMIII(SO4)2.12H2O; MI là kim loại hoá trị 1 như Na+, K+, Ce+, Rb+, hoặc NH4+; MIII là ion kim loại hoá trị 3 như Al3+, Fe3+, Mn3+, V3+, Ti3+ Co 3+, Ga3+, Rb3+, Cr3+.

 

Chúng ta thường gặp các loại muối kép này dưới tên Phèn kép. Người ta quen gọi các muối kim loại ngậm nước với công thức Mx(SO4)y.nH2O là Phèn đơn. Ví dụ. phèn amoni là muối kép (NH4)2SO4, Al2(SO4)3.24H2O, phèn crom Na2SO4.Cr2(SO4)3.24H2O; phèn kali KAl(SO4)2.12H2O, phèn natri NaAl(SO4)2.12H2O; phèn đen: hỗn hợp của nhôm sunfat và than hoạt tính. Dùng để tinh chế nước; dùng trong công nghiệp vải, sợi, giấy, thuộc da... Một số loại phèn cụ thể: Phèn nhôm; Phèn sắt.

 

8.2 Phèn sắt là gì?

 

Là một muối kép của sắt (III) sunfat với muối sunfat của kim loại kiềm hay amoni, ví dụ. kali sắt sunfat [K2SO4.Fe2(SO4)3.24H2O hay KFe(SO4)2.12H2O]. Ở dạng tinh khiết, Phèn sắt là tinh thể không màu, nhưng thường có màu tím vì có vết mangan; tan trong nước. Phèn sắt được điều chế bằng cách kết tinh hỗn hợp sắt (III) sunfat với muối sunfat của các kim loại kiềm hoặc amoni. Phèn sắt thường được dùng làm thuốc thử trong các phòng thí nghiệm.

 

8.3 Phèn nhôm là gì?

 

Gồm hai loại: 

- Phèn nhôm đơn: Al2.(SO 4)3.18H2O.

- Phèn nhôm kép: muối kép của sunfat nhôm với sunfat kim loại kiềm hoặc amoni.


a) Kali nhôm sunfat hay PHÈN NHÔM KALI (thường gọi: phèn chua) [KAl(SO4)2.12H2O hay K2SO4.Al2(SO4)3.24H2O]: Tinh thể lớn hình bát diện, trong suốt, không màu,vị chát, cảm giác se lưỡi; khối lượng riêng 1,75 g/cm3; tnc= 92oC; đun nóng đến 200oC thì mất nước kết tinh, thành phèn khan ở dạng bột trắng (thường gọi là phèn phi hoặc khô phèn) ít tan trong nước.

 

Dung dịch phèn chua có tính axit, không độc. Tinh thể phèn tan trong nước tạo màng hiđroxit lắng xuống kéo theo các chất bẩn lơ lửng trong nước, vì vậy, nó được dùng làm trong nước; làm chất cầm màu trong nhuộm vải; chất kết dính trong ngành sản xuất giấy; làm thuốc thử trong các phòng thí nghiệm, dùng làm thuốc cầm máu bề mặt, lau rửa bộ phận cơ thể ra nhiều mồ hôi, rửa niêm mạc miệng, họng; làm thuốc rắc kẽ chân. Y học cổ truyền còn gọi phèn chua là bạch phèn. Bạch phèn có tính hàn, vào kinh tì, giải độc, sát khuẩn, cầm máu, chữa viêm dạ dày, ruột; dùng thêm các vị thuốc khác chữa đau răng. Phèn phi trộn với bột lưu huỳnh tán nhỏ và tá dược dùng bôi nách sau mỗi lần tắm để chữa chứng hôi nách.

 

b) Amoni nhôm sunfat hay PHÈN NHÔM amoni [(NH4)2SO4.Al2(SO4)3.24H2O)]: tinh thể màu trắng, khối lượng riêng 1,65 g/cm3, tnc = 94,5oC. Dễ tan trong nước. Cũng dùng làm trong nước; là một thành phần của bột nở, bột chữa cháy; dùng trong mạ điện; trong y học, dùng làm thuốc lợi tiểu, gây nôn.

 

     9. Amoni trong nước?

     

     Tài liệu hướng dẫn về chất lượng nước uống của tổ chức Y tế thế giới cũng như tiêu chuẩn 1329/2002 (Bộ Y tế) không coi amôni là chất gây nguy hại cho sức khoẻ con người mà xếp vào nhóm các chất có thể làm người dùng nước than phiền vì lý do cảm quan (mùi , vị).

 

Tuy nhiên, amôni lại là yếu tố gây cản trở trong công nghệ xử lý nước cấp thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, nó làm giảm tác dụng của clo là tác nhân sát trùng chủ yếu áp dụng ở các nhà máy nước (NMN) Việt Nam, do phản ứng với clo tạo thành monocloamin là chất sát trùng thứ cấp hiệu quả kém clo hơn 100 lần. Thứ hai, amôni cùng với một số vi lượng trong nước (hữu cơ, phốt pho, sắt, mangan…) là “thức ăn” để vi khuẩn phát triển, gây hiện tượng “không ổn định sinh học” của chất lượng nước sau xử lý. Nước có thể bị đục, đóng cặn trong hệ thống dẫn, chứa nước.Nước bị xuống cấp về các yếu tố cảm quan. Đây chính là khía cạnh được giới khoa học các nước phát triển quan tâm nhiều vào những năm 1980-1990 và là cơ sở của phương pháp xử lý - ổn định nước cấp bằng vi khuẩn.

 

Một hiện tượng nữa cần được quan tâm là khi nồng độ amôni trong nước cao, rất dễ sinh nitrit (NO2). Trong cơ thể động vật, nitrit và nitrat có thể biến thành N - nitroso - là tiền chất có tiềm năng gây ung thư. Mặc dù bằng chứng dịch tễ học chưa đầy đủ về tác hại đối với con người, nhưng Tổ chức Y tế thế giới cũng như Tiêu chuẩn 1329/2002 (Bộ Y tế) đã đề ra mức giới hạn 3 và 50mg/l đối với nitrit và nitrat tương ứng nhằm ngăn ngừa bệnh mất sắc tố máu (methaemoglobinaemia) đối với trẻ sơ sinh dưới 3 tháng tuổi.

 

9.1 Tác hại của amoni

 

Ở trong nước ngầm, amoni không thể chuyển hóa được do thiếu oxy. Khi khai thác lên, vi sinh vật trong nước nhờ oxy trong không khí chuyển amoni thành các nitrat(NO2-), nitrit (NO3-) tích tụ trong nước ăn. Khi ăn uống nước có chứa nitrit, cơ thể sẽ hấp thu nitrit vào máu và chất này sẽ tranh oxy của hồng cầu làm hêmoglobin mất khả năng lấy oxy, dẫn đến tình trạng thiếu máu, xanh da. Vì vậy, nitrit đặc biệt nguy hiểm cho trẻ mới sinh dưới sáu tháng, nó có thể làm chậm sự phát triển, gây bệnh ở đường hô hấp. Đối với người lớn, nitrit kết hợp với các axit amin trong thực phẩm làm thành một họ chất nitrosamin. Nitrosamin có thể gây tổn thương di truyền tế bào - nguyên nhân gây bệnh ung thư. Những thí nghiệm cho nitrit vào thức ăn, nước uống củachuột, thỏ... với hàm lượng vượt ngưỡng cho phép thì sau một thời gian thấy những khối u sinh ra trong gan, phổi, vòm họng của chúng.

Nếu bạn quan tâm đến sản phẩm của chúng tôi hãy gọi ngay đến số 0985. 968. 306hoặc để lại bình luận tại đây để được tư vấn trực tiếp